CHIÊM SÁT THIỆN ÁC NGHIỆP BÁO KINH HÀNH PHÁP

Tỳ Kheo Trí Húc đời Minh biên tập (Đại Sư Ngẫu Ích – Tổ thứ 9 Tịnh Độ Tông)

Download PDF bản gốc tiếng Hán

Download PDF bản dịch tiếng Việt (Đang hoàn thiện)


DUYÊN KHỞI

Chư Phật Bồ Tát, thương nhớ quần mê, còn hơn mẹ nhớ con, dùng đủ loại phương tiện, dạy dỗ để thoát khỏi khổ ải luân hồi. Thế nhưng chúng sanh không hiểu rõ nhân duyên nghiệp báo, không biết đoạn ác tu thiện, tín tâm thanh tịnh ngày một suy yếu, năm thứ ô trọc (ngũ trọc) tăng lớn. Bởi do cảm thương trước sự kịch khổ, với lòng từ bi đáp lại duyên cớ đó, mà có một vị Bồ Tát tên là Kiên Tịnh Tín, thưa thỉnh Thế Tôn, thương xót chỉ bày phương tiện cứu giúp. Đức Phật mới ngợi khen rộng lớn công đức của Địa Tạng Bồ Tát, vì chúng sanh mà kiến lập phương tiện dùng Tam Chủng Luân Tướng để xem sai biệt về thiện ác của chúng nó, từ đó tu hai phép quán, quay về nhất thật cảnh giới. Nên với những người nghiệp nặng, trước tiên không nên tu định tuệ, mà chiếu theo Sám pháp để đạt được thanh tịnh, sau đó mới tu tập hai phép quán thì mới tránh được chướng ngại. Thực sự đối với thời mạt pháp thì đây là phương tiện thù thằng trong các loại phương tiện vậy.

Tôi buồn vì chướng tâm sâu nặng, học pháp thì ngày càng loạn, luật giáo thiền tông, tạp loạn cũng chẳng chuyên nhất được, may mắn thay gặp được pháp này, khai phá mê mờ cho tôi, xem xét về nghi thức này thấy cả lý quán, lại có thể thực hành ngay, bèn đem các sám pháp, chắt lọc lựa chọn để vào bản sám nghi này, lập thành Thập khoa hành pháp, mỗi mỗi đều được lấy bày ra trước mắt, từ đầu đến cuối xem xét từng chi tiết nhỏ một để quyết định. Nay thuật lại duyên khởi về pháp hành này cho chư vị.

KHUYẾN TU

Nếu là đệ tử Phật, như là muốn tu xuất thế chánh pháp, hoặc muốn hiện tại không gặp các chướng duyên, hoặc là muốn diệt trừ các nghiệp nặng vô gián như ngũ nghịch thập ác, hoặc muốn cầu hiện tại cuộc sống sung túc, hoặc muốn cho các tội trọng nạn khinh giá đều được tiêu diệt, hoặc muốn đắc thanh tịnh luật nghi ưu-bà-tắc, sa-di, tỳ-kheo, hoặc muốn đắc tam tụ tịnh giới Bồ tát, hoặc muốn được các loại thiền tam muội, hoặc muốn được vô tướng trí huệ, hoặc cầu hiện chứng tam thừa quả vị, hoặc tuỳ ý vãng sanh Phật quốc Tịnh độ, hoặc muốn ngộ vô sanh pháp nhẫn viên mãn chứng nhập nhất thật cảnh giới, đều nên tiếp nhận thọ trì tu hành pháp sám hối này. Tại sao vậy? Đây là do Thích Ca Như Lai có lòng từ bi quảng đại, mới nói các nguyện từ bi rộng lớn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, không khổ nào mà chẳng diệt, không vui nào mà chẳng sanh.

Cứ nương theo đó mà tu hành thì Tịnh tín kiên cố, như ánh sáng quảng đại của Kinh, vì thế nên tin vào bản sám nghi này.

TÓM TẮT CÙNG THỰC HÀNH

Trong Kinh không nói về số người nhiều ít cùng thực hành pháp này, nhưng theo tôi thì tối đa chỉ nên 10 người. Tuy nhiên, nên tuyển chọn kỹ càng những người thực sự đều là pháp khí, đều có đạo tâm, nếu không cùng chí hướng, tốt nhất nên hành một mình. Có thể là những người chân thật vì sanh tử, đồng hành với nhau, nội trong 10 người là đủ, nhiều ít không vấn đề gì.

Lại nữa, nhất định trước tiên phải xem xét sở cầu, hoặc cầu luật nghi, hoặc cầu định tuệ, hoặc cầu chứng quả, hoặc cầu vãng sanh, sở cầu phải tương hợp thì mới có thể cùng tu. Trong 10 người đó, bầu ra một người túc đức (có hiểu biết, có tu hành, biết Phật pháp) để làm giáo thọ sư, từ sự đến lý, việc lớn việc nhỏ đều phải vâng theo. Chớ có cẩu thả khinh xuất mà phải chịu khó khăn trong việc hành.

CHIÊM SÁT LUÂN TƯỚNG

Đối với pháp sám hối, tuy rằng quy tắc phổ biến là vì chúng sanh mà phát lồ sám hối tội lỗi, song người thời nay từ vô thuỷ huân tập nghiệp lực, nhiều thứ thiên cường, do đó ở trong Kinh nói, trước hết phải chiêm luân tướng ban đầu, sau đó mới sáng tỏ được phương pháp sám hối. Nay muốn tu sám hối thì phải nghiêm tịnh đạo tràng, chiếu theo nghi thức mà thực hiện chiêm sát luân tướng. Theo đó mà xem xét quán sát thiện ác của mình, xem tội nặng nhẹ như thế nào, từ đó đối với từng tội, trong các thời khoá tu sám hối, nói ra cho rõ ràng.

Trên đây là nói phần phụ của Chiêm Sát Sám pháp.

CHÁNH TU SÁM PHÁP

Theo tiêu chuẩn của Kinh thì có thể chia ra làm 10 phần để hành (Thập khoa hành pháp). 

  1. Nghiêm tịnh Đạo tràng

Kinh nói rằng: Người nào muốn tu sám hối, thì phải ở một nơi yên tĩnh, tuỳ theo năng lực của mình mà trang nghiêm một tịnh thất, bên trong thiết lập một bàn thờ Phật, đặt Kinh Sám yên vị, treo tràng phan bảo cái, tìm các loại hương hoa dùng để tu cúng dường.

  1. Thanh tịnh tam nghiệp.

Kinh nói rằng: Tắm rửa thân thể, cho đến giặt sạch y phục, không để cho dơ bẩn, bốc mùi hôi hám. Theo như các pháp hành, mỗi khi cơ thể bị dơ bẩn, phải thay đổi y phục, sau khi trở lại, phải tắm rửa thật sạch sẽ, mới mặc lại y phục sạch. Cho dù một ngày cơ thể không bị dơ bẩn, cũng phải tắm rửa một lần như thế. Cứ hết một kỳ hạn, hoặc 7 ngày, hoặc 2 tuần, hoặc 3 tuần, cho đến ngàn ngày, sẽ đạt được tam nghiệp thuần thiện luân tướng trong kỳ hạn đó.  Trong thời gian đó phải chuyên tâm, chớ nên nói chuyện tạp nham, cho đến tất cả những việc tiếp cận thông tin, nếu thực sự có nhu cầu, thì có thể trực tiếp làm chứ không được nói lời dư thừa ảnh hưởng đến người, đến việc.

Lúc tu niệm pháp tu này, phải luôn giữ nhất tâm, không được để một sát na nào nhớ nghĩ đến việc tạp ở thế gian. Phải nên tư duy: sanh tử là việc lớn, vô thường đến rất nhanh, phải kiên tinh nỗ lực thì mới vượt qua được biển khổ này. Nếu có chút trái với tịnh pháp, thì uổng phí công sức, không thể không dè chừng.

  1. Cúng dường hương hoa

Hành giả mới đầu vào trong đạo tràng, đến trước pháp toạ, điều phục thân thể cho ngay ngắn, đứng chắp hai tay trước ngực cung kính, trước tiên duyên niệm (trong tâm niệm): “Nhất thiết Tam Bảo, thể thường biến mãn, vô sở bất tại. Chúng sanh mê hoặc, lưu chuyển khả ai. Ngã vi chúng sanh, phản mê quy ngộ, lễ kính Tam Bảo”. (tạm dịch: Tất cả Tam Bảo, thường tròn đầy khắp nơi, không đâu chẳng có. Chúng sanh mê hoặc, thật đang thương xót. Con nay vì chúng sanh, phản mê quy ngộ, lễ kính Tam Bảo”.)

Tự niệm như thế xong rồi, xướng lên:

“Nhất thiết cung kính,

Nhất tâm kính lễ Thập phương thường trụ Tam Bảo”

Lễ xuống như thế rồi, tuỳ theo có hương, hoa thì mang đến tu cúng dường, làm thế rồi xướng lên:

Nghiêm trì hương hoa như pháp cung dưỡng 

Nguyện thử hương hoa vân biến mãn thập phương giới

Cung dưỡng nhất thiết Phật, Tôn Pháp chư Hiền Thánh

Vô biên Phật thổ trung, thụ dụng tác Phật sự.

(Tạm dịch:

Nghiêm trì hương hoa, cúng dường như pháp

Nguyện khói hương thơm này, tròn đầy khắp mười phương

Cúng dường tất cả Phật, Tôn Pháp các Hiền Thánh

Vô biên trong cõi Phật, lợi ích làm Phật sự)

Đến đây dừng xướng, tán hoa để cúng dường, tay cầm lư hương, rồi tưởng rằng:

Nhất thiết Phật Pháp Tăng Bảo, thể thường biến mãn, vô sở bất tại.

Nguyện lệnh dĩ thử hương hoa đẳng đồng pháp tính, phổ huân nhất thiết chư Phật sát thổ, thi tác Phật sự. Thập phương nhất thiết cung cụ vô thì bất hữu, ngã lệnh đương dĩ thập phương sở hữu nhất thiết chủng chủng hương hoa, anh lạc, tràng phan, bảo cái, chư trân diệu sức, chủng chủng âm nhạc, đăng minh chúc hỏa, ẩm thực, y phục, ngọa cụ, thang dược, nãi chí tận thập phương sở hữu nhất thiết, chủng chủng trang nghiêm cung dưỡng chi cụ, ức tưởng diêu nghĩ, phổ cộng chúng sanh, phụng hiến cung dưỡng. Nhất thiết thế giới trung, hữu tu cung dưỡng giả, ngã kim tùy hỉ. Nhược vị tu cung dưỡng giả, nguyện đắc khai đạo lệnh tu cung dưỡng. Hựu nguyện ngã thân tốc năng biến chí nhất thiết sát thổ, ư nhất nhất Phật Pháp Tăng sở, các dĩ nhất thiết chủng chủng trang nghiêm cung dưỡng chi cụ, cộng nhất thiết chúng sanh đẳng trì phụng hiến, cung dưỡng nhất thiết chư Phật pháp thân, sắc thân, xá lợi, hình tượng, phù đồ, miếu tháp, nhất thiết Phật sự.

Cung dưỡng nhất thiết sở hữu Pháp tạng cập thuyết pháp xứ.

Cung dưỡng nhất thiết Hiền Thánh Tăng chúng.

Nguyện cộng nhất thiết chúng sanh tu hành như thị cung dưỡng dĩ, tiệm đắc thành tựu lục ba la mật, tứ vô lượng tâm. Thâm tri nhất thiết pháp, bổn lai tịch tĩnh, vô sanh vô diệt, nhất vị bình đẳng, li niệm thanh tịnh, tất cánh viên mãn.

(Tạm dịch:

Tất cả Phật, Pháp, Tăng Bảo, tròn đầy khắp nơi, không đâu chẳng có.

Nguyện khiến hương hoa này, đồng như pháp tánh

Xông khắp tất cả các cõi Phật để làm Phật sự

Dụng cụ cúng dường tất cả mười phương lúc nào cũng có.

Hôm nay con xin đem tất cả các Hương hoa, Anh lạc, Tràng phan, Bảo cái, các Trang sức quý báu vi diệu, vô số Âm nhạc, Ánh sáng đèn nến, Ẩm thực, Y phục, Ngọa cụ, Thuốc men, cho đến tất cả những dụng cụ cúng dường trang nghiêm tận khắp mười phương, hình dung nhớ tưởng, đều cùng chung với tất cả chúng sanh, phụng hiến cúng dường. Trong các thế giới có người tu cúng dường, hôm nay con xin tùy hỷ, nếu người chưa tu cúng dường, nguyện được dẫn dắt khiến họ tu cúng dường.

Lại nguyện thân con nhanh chóng có thể biến đến khắp tất cả cõi nước, ở mỗi nơi có Phật – Pháp – Tăng, đều dùng tất cả những dụng cụ cúng dường trang nghiêm, cùng với tất cả chúng sanh, phụng hiến cúng dường, cho tất cả Pháp thân, Sắc thân, Xá lợi Hình tượng, Phù đồ Miếu tháp và tất cả các Phật sự của chư Phật.

Cúng dường tất cả Pháp Tạng và nơi thuyết pháp.

Cúng dường tất cả Hiền Thánh Tăng chúng.

Nguyện cùng với tất cả chúng sanh tu hành cúng dường như thế, dần dần được thành tựu Lục Ba La Mật, Tứ Vô Lượng Tâm, hiểu sâu tất cả pháp vốn tịch tĩnh, không sanh không diệt, một vị bình đẳng, lìa niệm thanh tịnh, tất cánh viên mãn. )

Sau khi niệm toàn bộ đoạn Kinh văn như thế rồi, xướng rằng: 

Cung dưỡng dĩ, nhất thiết cung kính (tạm dịch: “Cúng dường rồi, tất cả cung kính”)

Xướng xong lễ xuống 1 lễ

  1. Khải thỉnh Tam Bảo, Chư Thiên

Trong bổn kinh không có nói đến pháp Khải thỉnh, nhưng theo như nghi thức hành pháp lâu nay mà chúng ta thường biết thì nghi thức là 3 lần thỉnh. Quả thật Tam Bảo không đâu mà chẳng có, tại do chúng sanh mê hoặc lâu dài, bỏ đi giác tánh, hợp với trần lao, nên bị ngăn cách niệm từ bi. Nay đã phá mê quy ngộ, phải luôn nhớ nghĩ Tam Bảo tròn đầy khắp hư không,  ứng vật hiện hình, như trăng trong nước.

Niệm như thế rồi, dốc lòng đến rơi lệ, lần lượt ba lần thưa thỉnh, tay cầm lư hương, đốt cháy hết hương, miệng xướng lên:

“Nhất tâm phụng thỉnh Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

Nghĩ rằng: “Ngã tam nghiệp tính như hư không, Thích Ca Như Lai diệc như thị. Bất khởi chân tế vi chúng sanh, dữ chúng câu lai thụ cung dưỡng.”

(tạm dịch: “Con ba nghiệp tánh như hư không, Thích Ca Như Lai cũng như vậy. Không khởi chân tế vì chúng sinh, cúng Thánh chúng đến nhận cúng dường”

Tất cả phía sau đều theo như thế, nhưng phải sửa lại danh hiệu Phật và nơi chốn, cho đến thỉnh thỉnh các vị Hiền Thánh, tất cả các Hiền Thánh đều như thế.

Tất cả đều theo như trên, thỉnh tất cả 3 lần, mỗi lần lại lễ 1 lễ.

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Tỳ Bà Thi đẳng quá khứ Thất Phật.  

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Phổ Quang Phật đẳng Ngũ Thập Tam Phật  

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nghĩ rằng: Chư Phật pháp thân như hư không, hóa sự trụ thế nan tư nghì, ngã kim tam nghiệp như pháp thỉnh, duy nguyện ảnh hiện thụ cung dưỡng.

(Tạm dịch: Chư Phật Pháp thân như hư không, hoá hiện thế gian chẳng nghĩ bàn, con nay ba nghiệp như pháp thỉnh, duy nguyện hiện thân nhận cúng dường.)

Nhất tâm phụng thỉnh nam mô Thập phương Tam thế Nhất thiết chư Phật  

Nhất tâm phụng thỉnh nam mô Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo kinh vi diệu pháp tạng  

Nghĩ rằng:  “Pháp tánh như không bất khả kiến, thường trụ Pháp Bảo nan tư nghì, ngã kim tam nghiệp như pháp thỉnh, duy nguyện ảnh hiện thụ cung dưỡng.”

(Tạm dịch: Pháp tánh như không – không thể thấy, Pháp Bảo thường trụ – chẳng nghĩ bàn, con nay ba nghiệp như pháp thỉnh, duy nguyện hiện thân nhận cúng dường.)

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Thập phương Nhất thiết Pháp tạng

Nghĩ như trên.

Nhất tâm phụng thỉnh Nam Mô Thập Phương Nhất Thiết Hiền Thánh

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Kiên Tịnh Tín Bồ Tát Ma Ha Tát.

Đây là người thời đó đã khải giáo, phải nghĩ Bồ Tát vì ta mà thưa hỏi đại pháp, nay ta nghe thấy được pháp tối thắng này, tất cả là nhờ đại ân đức của Bồ Tát.

Nhất tâm phụng thỉnh nam mô Biến Kiết Bồ Tát ma ha tát (Biến Kiết Bồ Tát tức Phổ Hiền Bồ Tát)

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nên nhớ hai vị Bồ Tát ấy thực hành từ bi trí tuệ , phổ độ quần mê, cùng với oai thần của Địa Tạng Bồ Tát không khác.

Nhất tâm phụng thỉnh Nam mô Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nên nhớ lúc này chúng ta đang đối trước vị Chủ toạ Sám hối. Nương vào lực oai thần Đại từ đại bi của Bồ Tát, khiến cho ta không ác nào chẳng diệt, không thiện nào chẳng sanh. Nay ta quy mạng khải thỉnh, như con nhớ mẹ. Ngài là chánh chủ của đạo tràng, với các Phật khác cùng đến chứng minh. Sinh lòng hổ thẹn, sinh tâm sám hối, rớt nước mắt mà cầu thương xót, như đang trước mặt kính phụng, mong được Bồ tát nhiếp thọ hộ trì!

Quán tưởng bài kệ như trên.

Nhất tâm phụng thỉnh Phạm Thích Tứ Vương, Thiên Long Bát Bộ, Tăng Già Lam Nội, Hộ Chánh Pháp Giả, Nhất thiết Thánh chúng.

Tất cả đều thỉnh 3 lần, mỗi lần đều lễ bái, không được bỏ sót.

Duy nguyện Thích Ca từ phụ. Thất Phật Thế Tôn. Ngũ Thập Tam Phật. Nhất thiết giác giả. Tha tâm đạo nhãn. Vô ngại kiến văn. Thần thông tự tại. Lai hàng đạo tràng. Nhiếp thủ ngã đẳng. Lệnh thành tịnh tín.

Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Tôn Kinh. Thập phương Nhất thiết thanh tịnh Pháp tạng. Đẳng chân pháp tính. Sung mãn hư không. Hiển hiện đạo tràng. Thụ ngã cung dưỡng.

Kiên Tịnh Tín Bồ Tát. Biến Kiết Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát đẳng. Thập phương nhất thiết Hiền Thánh. Bất xả đại từ. Lai lâm pháp tọa. Ai liên phúc hộ. Chứng ngã hành pháp.

Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Cứu thế chân sĩ. Đại trí khai sĩ. Thiện an úy thuyết giả. Tốc trừ chư chướng. Tăng tịnh tín giả. Đại từ đại bi. Bất vi bổn thệ. Phóng đại quang minh. Mãn ngã sở nguyện.

Hộ Pháp Thiên Long. Già Lam chân tể. Tùy ngã thỉnh lai. Kiên thủ Đạo tràng. Khước chư ma chướng. Thị hiện kiết tường. Lệnh ngã sở tu. Tự tại thành tựu.

(Tạm dịch:

Duy nguyện Đức Thích Ca từ phụ, Thất Phật Thế tôn, Ngũ Thập Tam Phật, tất cả các bậc giác ngộ, tha tâm đạo nhãn, thấy nghe vô ngại, thần thông tự tại, quang lâm đạo tràng, nhiếp thủ chúng con, khiến thành tịnh tín.

Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Tôn Kinh, tất cả Mười phương Pháp Tạng thanh tịnh, cùng chân Pháp tánh, sung mãn hư không, hiển hiện đạo tràng, nhận con cúng dường.

Kiên Tịnh Tín Bồ Tát, Biến Kiết Bồ Tát, cùng Quán Thế Âm Bồ Tát, mười phương tất cả Hiền Thánh, không xả từ bi, lai lâm pháp toạ, thương xót ủng hộ, chứng minh hành pháp của con.

Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, là bậc cứu thế chân thật, là bậc dẫn dắt đại trí tuệ, luôn dùng lời nhẹ nhàng an ủi, khiến cho con mau trừ chướng ngại, tăng trưởng Tịnh tín. Đại từ đại bi, không rời bổn nguyện, phóng đại quang minh, tròn đầy sở nguyện cho con.

Hộ Pháp Thiên Long, Già Lam chân tể, tuỳ thuận lời thỉnh của con, giữ vững đạo tràng, ngăn các ma chướng, thị hiện kiết tường, khiến sở tu của con, tự tại thành tựu.)

Cứ mỗi một đoạn lại thuyết lên 3 lần như thế rồi lễ xuống 1 lễ không được bỏ sót, duy chỉ có chỗ Hộ Pháp thì không lễ xuống.

  1. Tán lễ Tam Bảo

Trong Kinh không nói về pháp tán, nhưng đây là một phần đặc biệt. Ngay trong Kinh Thập Luân, Địa Tạng Bồ Tát tán Phật bằng 2 bài kệ, để hành lễ kính. Ở đây hợp nhất thành một phần.

Ngã văn biến tri hải. Chân thật đức vô biên. Độ thoát chư hữu tình. Tâm hoan hỉ kính lễ.

Tằng tu vô lượng phúc. Kim đắc lễ tôn túc. Nguyện vô lượng kiếp trung. Thường tu đa cung dưỡng.

(Tạm dịch: Con nghe trong biển chánh biến tri của chư Phật, Ân đức chân thân thật vô biên, độ thoát khắp hữu tình, tâm hoan hỉ kính lễ.

Từng tu vô lượng phước. Nay được lễ dưới chân Ngài. Nguyện trong vô lượng kiếp, thường tu pháp cúng dường.)

Nhất tâm kính lễ: Quá khứ Tỳ Ba Thi Phật

Quán tưởng:Năng lễ sở lễ tính không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì, ngã thử đạo tràng như đế châu, Tỳ Bà Thi Phật ảnh hiện trung, ngã thân ảnh hiện Như Lai tiền, đầu diện tiếp túc quy mệnh lễ.”

(Tạm dịch:

Phật, chúng con tánh vốn vắng lặng, cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn. Lưới Đế Châu ví đạo tràng, Tỳ Ba Thi Phật hiện vô biên trong này. Trước từng ngài thân con đều hiện, lễ xuống rồi quy mạng Như Lai.)

Phía sau vẫn theo chuẩn như thế, chỉ thay đổi danh hiệu Phật, Bồ Tát

Nhất tâm kính lễ Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật

Nhất tâm kính lễ Thi Khí Phật

Nhất tâm kính lễ Tỳ Xá Phù Phật

Nhất tâm kính lễ Câu Lưu Tôn Phật

Nhất tâm kính lễ Câu Na Hàm Mâu Ni Phật

Nhất tâm kính lễ Ca Diếp Phật

Nhất tâm kính lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

——————————————————–

Nhất tâm kính lễ Phổ Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Phổ Minh Phật

Nhất tâm kính lễ Phổ Tịnh Phật

Nhất tâm kính lễ Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật

Nhất tâm kính lễ Chiên Đàn Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Ma Ni Tràng Phật

Nhất tâm kính lễ Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật

Nhất tâm kính lễ Nhất Thiết Thế Gian Nhạo Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật

Nhất tâm kính lễ Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Huệ Cự Chiếu Phật

Nhất tâm kính lễ Hải Đức Quang Minh Phật

Nhất tâm kính lễ Kim Cang Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Đại Cường Tinh Tấn Dõng Mãnh Phật

Nhất tâm kính lễ Đại Bi Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Từ Lực Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Từ Tạng Phật

Nhất tâm kính lễ Chiên Đàn Khốt Trang Nghiêm Thắng Phật

Nhất tâm kính lễ Hiền Thiện Thủ Phật

Nhất tâm kính lễ Thiện Ý Phật

Nhất tâm kính lễ Quảng Trang Nghiêm Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Kim Hoa Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Hư Không Bảo Hoa Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Bất Động Trí Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Tài Quang Minh Phật

Nhất tâm kính lễ Trí Huệ Thắng Phật

Nhất tâm kính lễ Di Lặc Tiên Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Thiện Tịch Nguyệt Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Thế Tịnh Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Nhật Nguyệt Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Nhật Nguyệt Châu Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Huệ Tràng Thắng Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Diệu Âm Thắng Phật

Nhất tâm kính lễ Thường Quang Tràng Phật

Nhất tâm kính lễ Quan Thế Đăng Phật

Nhất tâm kính lễ Huệ Oai Đăng Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Pháp Thắng Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Tu Di Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Tu Ma Na Hoa Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Đại Huệ Lực Vương Phật

Nhất tâm kính lễ A Súc Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Tài Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Kim Hải Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Phật

Nhất tâm kính lễ Đại Thông Quang Phật

Nhất tâm kính lễ Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật.

Nhất tâm kính lễ Đông phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự

Quán tưởng: “Chư Phật pháp thân như hư không, hóa sự trụ thế nan tư nghị, ngã giai ảnh hiện hóa sự tiền, nhất nhất giai tất quy mệnh lễ.”

(Tạm dịch:Pháp thân chư Phật như hư không, hoá sự trụ thế chẳng nghĩ bàn, con cũng ảnh hiện ngay trước đó, tất cả đều cùng quy mạng lễ.”)

Nhất tâm kính lễ Đông Nam Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Nam Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Tây Nam Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Tây Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Tây Bắc Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Bắc Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Đông Bắc Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Hạ Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Thượng Phương Nhất thiết chư Phật sở hữu sắc thân xá lợi hình tượng phù đồ miếu tháp nhất thiết Phật sự.

Nhất tâm kính lễ Thập phương Tam thế Nhất thiết chư Phật. 

Nhất tâm kính lễ Thập phương Nhất thiết Pháp tạng

Lễ 3 lễ.

Lúc này đây sự kính sợ thật là lớn, như đang cầm lấy quẻ thăm may rủi, nếu có thể hướng mặt về mười phương đều dốc hết lòng tôn kính được thì càng tốt vậy.

Quán tưởng: Chân không pháp tính như hư không, thường trụ Pháp Bảo nan tư nghì, ngã thân ảnh hiện Pháp Bảo tiền, Nhất tâm như pháp quy mệnh lễ.

Tạm dịch: Chân không Pháp tánh như hư không, Pháp Bảo thường trụ chẳng nghĩ bàn, thân con ảnh hiện trước Pháp Bảo, nhất tâm như pháp quy mạng lễ.

Nhất tâm kính lễ Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh Vi Diệu Pháp Tạng  

Nhất tâm kính lễ Thập phương Nhất thiết Hiền Thánh

Lễ 3 lễ.

Lúc này đây sự sợi hãi thật là lớn, như đang cầm lấy quẻ thăm may rủi, nếu có thể hướng mặt về mười phương đều dốc hết lòng tôn kính được thì càng tốt vậy.

Quán tưởng: Năng lễ sở lễ tính không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì, ngã thử đạo tràng như Đế Châu, Thập Phương Hiền Thánh ảnh hiện trung, ngã thân ảnh hiện Hiền Thánh tiền, đầu diện tiếp túc quy mệnh lễ.

Tạm dịch: Thánh Hiền, chúng sinh tánh thường rỗng lặng, Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn, Lưới đế châu ví đạo tràng, Thập phương Hiền Thánh hiện hào quang sáng ngời, Trước Hiền Thánh thân con ảnh hiện, Cúi đầu xin thề nguyện quy y.

Nhất tâm kính lễ Kiên Tịnh Tín Bồ Tát Ma Ha Tát 

Nhất tâm kính lễ Biến Kiết Bồ Tát Ma Ha Tát

Nhất tâm kính lễ Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát

Nhất tâm kính lễ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Lúc này, đối trước sám chủ, lễ 3 lễ, quán tưởng bài kệ như trước, nhưng ở câu cuối cần sửa lại thành: “vi cầu diệt chướng tiếp túc lễ” (tạm dịch: cúi đầu xin diệt chướng cho con). Hoặc có thể tuỳ theo sở cầu mà có thể xưng lên như vậy. Ví dụ, cầu Luật nghi thì như sau: “vi cầu luật nghi tiếp túc lễ” (tạm dịch: cúi đầu xin được cầu Luật nghi). Nêu cầu chứng quả, hay cầu vãng sanh, hay các loại khác đều làm như thế.

  1. Tu hành sám hối

Kinh nói rằng: Lúc này cần đối trước Phật Bồ Tát để nói ra các tội lỗi đã tạo, một lòng ngưỡng cáo. Tội lỗi tuy là vô lượng nhưng chung quy vẫn ở những tội đã hiện lên luân tướng, đặc biệt là tội cực trọng, có thể chiêu cảm quả báo ác, có thể chướng ngại Thánh đạo, cho nên cần phải thấy hổ thẹn mà đến rơi lệ, trình bày từng thứ một, năm vóc sát đất thành khẩn mà hối lỗi, mong được tiêu diệt tội căn.

Nói lên các trọng tội như vậy rồi, niệm như vầy:

Ngã cập chúng sanh, vô thủy thường vi tam nghiệp lục căn trọng tội sở chướng. Bất kiến chư Phật, bất tri xuất yếu, đãn thuận sanh tử, bất tri diệu lí.

Ngã kim tuy tri, do dữ chúng sanh đồng vi nhất thiết trọng tội sở chướng.

Kim đối Địa Tạng, Thập phương Phật tiền, phổ vi chúng sanh, quy mệnh sám hối.

Duy nguyện gia hộ, lệnh chướng tiêu diệt.

(Tạm dịch: Con và chúng sanh, từ vô thuỷ đến nay, thường bị tội nặng của ba nghiệp sáu căn làm chướng ngại, nên không thấy được chư Phật, không biết sự quan trọng của việc xuất li sanh tử, thuận theo sanh tử, không biết giáo lý vi diệu. Mặc dù nay đã biết, nhưng do con cùng chúng sanh đều bị tất cả tội nặng làm chướng ngại. Nay con đối trước Bồ Tát Địa Tạng, Thập phương chư Phật, rộng vì chúng sanh mà quy mạng sám hối.

Duy nguyện Bồ Tát Địa Tạng, thập phương chư Phật từ bi gia hộ, khiến cho con và chúng sanh tội chướng tiêu diệt.)

Niệm như vậy rồi, quỳ xuống và xướng lên:

Phổ vi pháp giới nhất thiết chúng sanh:  phụ mẫu sư trưởng, huynh đệ tỉ muội, tử nữ thân quyến, đồng tu đạo hữu đẳng. Tất nguyện đoạn trừ tam chướng, quy mệnh sám hối.

Tạm dịch:

Rộng vì tất cả chúng sanh khắp pháp giới: cha mẹ, sư trưởng, huynh đệ tỉ muội, thân quyến nam nữ, cùng đồng tu đạo hữu, đều nguyện đoạn trừ ba chướng, quy mạng sám hối.

Xướng lên như vậy rồi, năm vóc sát đất. Trở dậy và niệm như vầy:

Ngã dữ chúng sanh, vô thủy lai kim, do ái kiến cố, nội kế ngã nhân, ngoại gia ác hữu, bất tùy hỉ tha nhất hào chi thiện, duy biến Tam nghiệp, quảng tạo chúng tội, sự tuy bất quảng, ác tâm biến bố, trú dạ tương tục, vô hữu gián đoạn, phúc húy quá thất, bất dục nhân tri, bất úy ác đạo, vô tàm vô quý, bát vô nhân quả, cố ư kim nhật: thâm tín nhân quả, sanh trọng tàm quý, sanh đại bố úy, phát lộ sám hối, đoạn tương tục tâm, phát Bồ Đề tâm, Đoạn ác tu thiện, cần sách tam nghiệp, phiên tích trọng quá, tùy hỉ Phàm Thánh, nhất hào chi thiện.

Niệm Thập phương Phật, hữu đại phúc tuệ, năng cứu bạt ngã, cập chư chúng sanh, tòng nhị tử hải, trí tam đức ngạn. Tòng vô thủy lai, bất tri chư Pháp, bổn tính không tịch, quảng tạo chúng ác. Kim tri không tịch, vi cầu Bồ Đề, vi chúng sanh cố, quảng tu chư thiện, biến đoạn chúng ác.

 Duy nguyện Nhất thiết Tam bảo, Địa Tạng Bồ Tát, từ bi nhiếp thụ, thính ngã sám hối.

(Tạm dịch:

Con và chúng sanh, từ vô thuỷ đến nay, do tham ái kiến chấp: trong thì suy tính ngã nhân, ngoài lại thêm bạn xấu, không tuỳ hỉ người khác dù chút thiện nhỏ, duy chỉ có ba nghiệp tạo ra nhiều tội ác to lớn, việc tuy không rộng nhưng ác tâm lan tràn, ngày đêm liên tục không hề gián đoạn, che dấu tội ác của chính mình, không muốn người biết, không sợ quả báo trong ác đạo, chẳng có chút hổ thẹn, không đoái hoài nhân quả.

Cho nên giờ đây: Tin sâu nhân quả, sanh trọng hổ thẹn, sanh tâm khiếp sợ ác đạo, phát lộ sám hối, đoạn tâm tương tục, phát tâm Bồ Đề, đoạn ác tu thiện, hết lòng sách tấn ba nghiệp, sửa đổi tội nặng trong quá khứ, tuỳ hỉ Phàm Thánh dù chút thiện nhỏ.

Niệm mười phương Phật có đại phước huệ, có thể cứu bạt cho còn và chúng sinh, đều từ trong biển sinh tử, đến được bến bờ của Tam Đức.

Từ vô thuỷ đến nay, không biết các các pháp vốn sẵn không tịch, nên con đã  tạo ra quá nhiều tội ác, nay biết không tịch, con vì chúng sinh, cầu đạo Bồ Đề, rộng tu các điều thiện, đoạn tất cả điều ác.

Duy nguyện hết thảy Tam Bảo, Địa Tạng Bồ Tát, từ bi nhiếp thọ, nghe con sám hối.)

Niệm như vậy rồi, tiếp tục quỳ rồi xướng:

Ngã đệ tử….chí tâm sám hối. Ngã cập chúng sanh, Tự tính thanh tịnh, nhất thật cảnh giới, chư Phật thể đồng. Vô minh si ám, huân tập nhân duyên, hiện vọng cảnh giới, lệnh sanh niệm trứ. Kế ngã ngã sở, tập chư ác pháp, tam nghiệp lục căn, quảng tạo chúng tội, thập ác ngũ nghịch, trọng nan khinh già, chướng tuệ chướng định, chướng chư giới phẩm, trí sử trường luân khổ hải, vĩnh xuất vô kì.

Thiết dục tu hành, đa chư nghi chướng, hoặc nhiễu ngoại ma, hoặc tao tà kiến, trợ duyên khuyết phạp, tịnh tín bất thành, kim ngộ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, thiện an úy thuyết, khai ngã mê vân, địch lự tẩy tâm, cầu ai hối quá.

Duy nguyện thập phương, chư đại Từ Tôn, chứng tri hộ niệm, ngã kim sám hối, bất phục canh tạo. Nguyện ngã cập nhất thiết chúng sanh, tốc đắc trừ diệt, vô lượng kiếp lai, thập ác tứ trọng, ngũ nghịch điên đảo, báng hủy Tam Bảo, nhất xiển đề tội, như thị tội tính, bổn duy không tịch, đãn tòng hư vọng, điên đảo tâm khởi, vô hữu định thật, nhi khả đắc giả.

Nguyện nhất thiết chúng sanh, tốc đạt tâm bổn, vĩnh diệt tội căn.

Tạm dịch:

Con đệ tử (….) chí tâm sám hối:

Con và chúng sanh, tự tánh vốn tự thanh tịnh, nhất thật cảnh giới, như là chư Phật. Nhưng do vô minh si ám huân tập nhân duyên, nên hiện ra cảnh giới hư vọng, khiến chúng con sanh tham trước, chấp trước cái Ta, của Ta, huân tập các ác pháp, sáu căn ba nghiệp, tạo nhiều tội chướng: thập ác ngũ nghịch, trọng nạn khinh giá, chướng tuệ chướng định, chướng chư giới phẩm, dẫn đến rơi vào biển khổ luân hồi dài lâu, mãi không có ngày ra.

Giả như muốn tu hành, nhưng quá nhiều nghi chướng, hoặc bị ngoại ma quấy nhiễu, hoặc gặp tà kiến, không đủ trợ duyên, tịnh tín không thành.

Nay gặp Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, nói lời nhẹ nhàng an ủi, mở đám mây đen mê hoặc, gột tẩy âu lo trong tâm con, cầu ai sám hối.

Duy nguyện thập phương chư đại Từ tôn, chứng tri hộ niệm, nay con sám hối, không tạo lại nữa. Nguyện con cùng tất cả chúng sinh, nhanh chóng trừ diệt từ vô lượng kiếp đến nay, thập ác tứ trọng, ngũ nghịch điên đảo, huỷ báng Tam Bảo, tội nhất xiển đề. Tội tánh như vậy, vốn là vắng lặng, nhưng từ hư vọng mà khởi tâm điên đảo, không có định thật thì không thể chứng đắc.

Nguyện tất cả chúng sanh, nhanh chóng đạt được tâm ban đầu, vĩnh viễn diệt trừ tội căn.

 

Có thể nói 1 lần hoặc 3 lần, 4 lần đều như vậy.

Sám hối xong, quy mạng lễ Tam bảo.

Văn sám hối là như vậy. Dưới đây là 3 lời nguyện, đều được trích ra từ Bổn Kinh. Tuy nhiên như các duy nguyện ở trước, trích lấy một số từ ngữ ở nơi khác trong Kinh, để nói lên các tội căn. Nay một lòng ngưỡng cáo suy nghĩ như vậy, thật chẳng dám thay đổi dù chỉ một từ.

  1. Phát Khuyến thỉnh Nguyện

Ngã đệ tử………..). Chí tâm khuyến thỉnh. Nguyện lệnh thập phương nhất thiết Bồ Tát. Vị thành chánh giác giả, nguyện tốc thành chánh giác. Nhược dĩ thành chánh giác giả, nguyện thường trụ tại thế, chuyển chánh pháp luân, bất nhập niết bàn.

Khuyến thỉnh dĩ, quy mệnh lễ Tam Bảo.

Tạm dịch: Con đệ tử (…………), Chí tâm khuyến thỉnh. Nguyện cho tất cả Bồ Tát trong mười phương, nếu chưa thành Chánh giác, nguyện nhanh chóng thành Chánh giác. Nếu đã thành Chánh giác, nguyện thường trụ tại thế, chuyển Chánh pháp luân, không nhập Niết Bàn.

Khuyến thỉnh xong, quy mạng lễ Tam Bảo

  1. Phát Tuỳ Hỉ Nguyện

Ngã đệ tử (………..) chí tâm tùy hỉ. Nguyện ngã cập nhất thiết chúng sanh, tất 

cánh vĩnh xả tật đố chi tâm, ư tam thế trung, nhất thiết sát thổ, sở hữu tu học, nhất thiết công đức, cập thành tựu giả, tất giai tùy hỉ.

Tùy hỉ dĩ, quy mệnh lễ Tam Bảo.

Tạm dịch: Con đệ tử (………) chí tâm tuỳ hỉ. Nguyện con và tất cả chúng sanh, rốt ráo vĩnh viễn xả bỏ tâm đố kỵ. Ở trong tất cả các thế giới trong ba đời có tu học, tất cả công đức cho đến sự thành tựu, con đều tuỳ hỉ.

Tuỳ hỉ xong, quy mạng lễ Tam Bảo.

  1. Phát Hồi Hướng Nguyện

Ngã đệ tử  (………)chúng đẳng, chí tâm hồi hướng. Nguyện ngã sở tu nhất thiết công đức, tư ích nhất thiết chư chúng sanh đẳng, đồng thú Phật trí, chí Niết Bàn thành.

Hồi hướng dĩ. Quy mệnh lễ Tam Bảo.

Tạm dịch: Đệ tử chúng con (………..), chí tâm hồi hướng. Nguyện đem tất cả công đức mà con tu được, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, cùng hướng đến Phật trí, đến thành Niết Bàn.

Hồi hướng xong, quy mạng lễ Tam Bảo.

  1. Phát nguyện thêm và đoạn toạ tịnh thất, xưng niệm danh hiệu

Trong năm phần sám hối của pháp sám (pháp môn ngũ hối) (lễ Phật, sám hối, tuỳ hỉ, khuyến thỉnh, phát nguyện), có sự khác nhau về phát nguyện, kinh này không nói, đại khái ở đây có 3 khuyến thỉnh, tức là lời nguyện. Hơn nữa, người tu hành sám phám này, sở cầu bất đồng, hoặc cầu luật nghi, hoặc cầu định tuệ, hoặc cầu vãng sanh Tịnh Độ, hoặc cầu hiện tại an lạc, thì giờ quyết định chọn cho chắc, thuận theo đó để hứa nguyện thêm. Do đó, tuỳ theo hành giả tu tập mà mỗi người tự nói ra cho rõ ràng. Tuy rằng có có sự không giống nhau, nhưng phải phù hợp với tứ hoằng thệ nguyện, không được tăng trưởng sanh tử. Quả thật sợ rằng không biết cách sơ lược mà làm lệch đi căn bản của Kinh Phật, nên tạm nêu lên đại ý như vậy, để thuận lợi cho việc hành trì. Hoặc dùng được hay không, tuỳ theo mà quyết định chọn.

Ngã đệ tử……..) chí tâm phát nguyện. Nguyện Thập phương Tam Bảo, Địa Tạng Từ Tôn, ai mẫn hộ trì, cứu bạt chửng tế. Lệnh thử quốc thổ, tai loạn tiêu trừ, Chánh Pháp lưu thông, hàm sanh tịnh tín, vô chư chướng ngại, vĩnh đoạn ma tà. Ngã cập chúng sanh, trọng tội tốc diệt, hiện li cổn não, sung túc tư sanh, tam tụ giới căn tất cánh thanh tịnh, nhị chủng quan đạo ứng niệm hiện tiền, tam vị tổng trì, thần thông phương tiện, tứ nhiếp lục độ, vô bất viên thành, liễu ngộ tự tâm, nhất thật cảnh giới, xả thân thử thế, sanh tại Phật tiền, diện phụng Di Đà, lịch thị chư Phật, thân mông thụ kí, hồi nhập trần lao, phổ hội quần mê, đồng quy bí tạng.

Phát nguyện dĩ, quy mệnh lễ Tam Bảo.

(Tạm dịch: Con đệ tử (…..) chí tâm phát nguyện. Nguyện Thập phương Tam Bảo, Địa Tạng Từ Tôn, thương xót hộ trì, cứu bạt chửng tế, khiến cho thế giới này, tiêu trừ thiên tai động loạn, Chánh Pháp lưu thông, tất cả đều sanh Tịnh Tín, không gặp các chướng ngại, vĩnh viễn đoạn trừ ma đạo và tà tri tà kiến. Con và chúng sanh, nhanh chóng diệt trừ trọng tội, hiện đời xa lìa sầu bi khổ não, cuộc sống sung túc, tạm tụ giới căn rốt ráo thanh tịnh, hai loại quán đạo ứng niệm hiện tiền, tam muội tổng trì, thần thông phương tiện, tứ nhiếp lục độ, không gì mà chẳng thành, liễu ngộ tự tâm, nhất thật cảnh giới, bỏ thân khỏi thế giới này, sinh tại Phật tiền, đối diện Di Đà, thân cận chư Phật, được Phật thọ ký, trở lại trần lao, phổ độ quần mê, đồng quy bí tạng.

Phát nguyện rồi, quy mạng lễ Tam Bảo)

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải.

Tự quy y tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lĩnh đại chúng, nhất thiết vô ngại.

Tự quy y Địa Tạng Bồ Tát, đương nguyện chúng sanh, phát Bồ Đề tâm, cầu sanh Tịnh Độ.

Đến một bên Tịnh thất, ngồi xuống ngay ngắn (đoan toạ), nhất tâm, hoặc xưng tụng, hoặc niệm thầm Địa Tạng Bồ Tát. Nếu như bị hôn trầm nhiều thì có thể trở lại vào trong đạo tràng nhiễu Phật, tụng niệm. Ngày 3 lần, đêm 3 lần, sửa soạn như trong Kinh nói, thì cứ sau 7 ngày, vào buổi sáng sớm dùng nhóm Luân tướng thứ hai gieo liên tục 3 lần. Nếu như Thân Khẩu Ý đều được thuần thiện thì xem như đắc thanh tịnh. Nếu như không đắc Tam Nghiệp Thuần Thiện Luân Tướng thì dù nhìn thấy ánh sáng hay mùi hương cát tường lạ thường trong mộng, thì đó chỉ là hư vọng không đúng vậy. Nếu không giữ gìn được Thuần Thiện Luân Tướng trước đó, chỉ nên xưng danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, không nên tu hành các phép quán. Sau này đạt được thiện rồi thì mới có thể tu hai phép quán đạo này.


PHỤ LỤC 1: HIỂU RÕ HAI LOẠI QUÁN ĐẠO

(phần này hiện đang hoàn thiện)

 


PHỤ LỤC 2: CHIÊM LUÂN TƯỚNG PHÁP

Chí tâm kính lễ Thập phương Nhất thiết chư Phật  

Nguyện lệnh Thập phương Nhất thiết chúng sanh, tốc tật giai đắc, thân cận cung dưỡng, tư thụ chánh pháp.

Tạm dịch: Nguyện cho Tất cả chúng sanh khắp mười phương, Nguyện cho tất cả chúng sanh trong mười phương, đều được nhanh chóng gần gũi cúng dường, thưa hỏi lãnh nhận Chánh Pháp của Phật!

Chí tâm kính lễ Thập phương Nhất thiết Pháp tạng  

Nguyện lệnh Thập phương Nhất thiết chúng sanh, tốc tật giai đắc, thụ trì độc tụng, như pháp tu hành, cập vi tha thuyết.

Tạm dịch: Nguyện cho tất cả chúng sanh trong mười phương, đều được nhanh chóng thọ trì đọc tụng, tu hành đúng Pháp, vì người diễn nói!

Chí tâm kính lễ Thập phương Nhất thiết Hiền Thánh

Nguyện lệnh Thập phương Nhất thiết chúng sanh, tốc tật giai đắc, thân cận cung dưỡng, phát Bồ Đề Tâm, chí bất thối chuyển.

Tạm dịch: Nguyện cho tất cả chúng sanh trong mười phương, đều được nhanh chóng, gần gũi cúng dường, phát tâm Bồ Đề, đến bất thoái chuyển!

Chí tâm kính lễ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát  

Nguyện lệnh Thập phương Nhất thiết chúng sanh, tốc đắc trừ diệt ác nghiệp trọng tội, li chư chướng ngại, tư sanh chúng cụ, tất giai sung túc.

Tạm dịch: Nguyện cho tất cả chúng sanh trong mười phương, mau được trừ diệt đi các nghiệp ác, lìa các chướng ngại, những vật nuôi thân đều được đầy đủ!

Lễ như thế rồi, tuỳ theo có hương hoa, lấy để tu cúng dường, xướng ngôn như sau:

Nghiêm trì hương hoa như pháp cung dưỡng 

Nguyện thử hương hoa vân biến mãn thập phương giới

Cung dưỡng nhất thiết Phật, Tôn Pháp chư Hiền Thánh

Vô biên Phật thổ trung, thụ dụng tác Phật sự.

Đến đây dừng xướng, tán hoa để cúng dường, quay trở lại rồi tưởng rằng:

“Nhất thiết Phật Pháp Tăng Bảo” cho đến “li niệm thanh tịnh tất cánh viên mãn”…

Toàn bộ kinh văn đầy đủ có trong sám nghi thuần thục, có thể dùng để quán tưởng mà không bỏ sót.

Cúng dường xong, tất cả cung kính

1 Lễ

Quay trở lại sử dụng các loại hương hoa, buộc tâm vào cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, nhất tâm mà nói rằng: “Đệ tử mỗ giáp hiện thị sanh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, bất tri tam thế nghiệp báo nhân duyên, đa hoài nghi hoặc. Kim dĩ mỗ sự, kính y bồ tát sở kì tam chủng luân tướng, như pháp chiêm sát, chí tâm ngưỡng khấu Địa Tạng từ tôn, nguyện dĩ đại bi lực gia bị chửng tiếp, trừ ngã nghi chướng.”

Tạm dịch: Con đệ tử:……………….. hiện là sinh tử phàm phu, tội chướng sâu nặng, không biết nhân duyên nghiệp báo ba đời, trong lòng quá nhiều nghi hoặc. Hôm nay, vì sự việc………………………….., kính nương vào sự thể hiện Tam Chủng Luân Tướng của Bồ Tát, như pháp Chiêm sát, chí tâm cầu mong Địa Tạng Từ Tôn, dùng lực đại bi, gia bị cứu vớt, diệt trừ nghi chướng cho con.

Nói như vậy xong, năm vóc sát đất, rồi lại quỳ lên, chắp hai tay cung kính, nhất tâm xưng niệm:

Nam Mô Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Hoặc xưng danh, hoặc niệm thầm, khi nào đủ được 1.000 câu, thì mới tác bạch như vầy:

Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, đại từ đại bi duy nguyện hộ niệm, ngã cập nhất thiết chúng sanh, tốc trừ chư chướng, tăng trường tịnh tín. Lệnh kim sở quan xưng thật tương ứng 

Tạm dịch: Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đại từ đại bi! Cúi mong Bồ Tát hộ niệm cho con và tất cả chúng sinh, mau trừ các chướng, thêm lớn đức tin thanh tịnh, khiến cho những điều xem xét hiện nay, khế hợp tương xứng đối với sự thật.

Tác bạch như vậy rồi hai tay bưng lấy Luân tướng, trên tấm vải sạch, dùng tâm Chí thành ân trọng, đưa tay lên ngang trán rồi gieo sang 1 bên, quan sát thật cho thận cẩn thận, tỉ mỉ. Rồi thì mới xem tương ứng hay không tương ứng, như trong Kinh nói.

Trước khi làm nên tự mình nghiềm ngẫm kỹ Kinh văn, nắm bắt được đại ý của Kinh, rồi mới có thể gieo Luân. Không tự có được cái tâm tỉ mỉ như thế thì quay trở lại nghi ngờ Luân là không thật thì tội nặng lắm đó.

Phàm là người Chiêm luân tướng, nếu muốn chiêm Tam Chủng Luân Tướng, thì lễ bái, cúng dường, xưng danh, tác bạch như thế. Rồi mới Chiêm Luân tướng nhóm thứ nhất, tuỳ theo Thiện Ác hiện ở trong nhóm luân tướng đó, mỗi mỗi đều phải tự mình nhớ. Với mỗi tướng như thế, chiêm luân tướng nhóm thứ hai, không cần phải chiêm luân tướng nhóm thứ ba.

Nếu như ai muốn tu sám pháp, chỉ nên chiêm Nhóm thứ nhất và Nhóm thứ hai, dùng cả hai loại Luân tướng đó, cũng thực hiện Lễ bái, cúng dường, xưng danh, tác bạch, lần lượt theo thứ tự chiêm như thế.

Nếu như ai muốn vì mình hoặc vì người, chỉ cần chiêm Nhóm Luân tướng thứ ba, muốn biết về quả báo ba đời, cũng Lễ bái, cúng dường, xưng danh, tác bạch giống như thế, cầm lấy Nhóm mộc luân thứ ba, liên tục gieo xuống 3 lần, mỗi lần đều ghi lại các số hiện ra, sẽ biết được cát – hung.

Nếu người tu sám pháp rồi, thường khoảng cứ sau 7 ngày, nếu như muốn chiêm nhóm Mộc luân thứ hai, cầu thuần thiện tướng, vào lúc sáng sớm, chỉ cần tác bạch, gieo xuống 3 lần liên tiếp.

 


PHỤ LỤC 3: NGHI THỨC TRAI PHẬT TRONG ĐÀN SÁM HỐI

Nam mô Thập phương Phật

Nam mô Thập phương Pháp

Nam mô Thập phương Tăng

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô Quá khứ Thất Phật

Nam mô Ngũ thập tam Phật

Nam mô Thập phương nhất thiết Phật sự

Nam mô Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh

Nam mô Kiên Tịnh Tín Bồ Tát

Nam mô Biến Kiết Bồ Tát

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam mô Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Xưng 3 lần tất cả, lần lượt tụng Biến thực chân ngôn 21 biến, Cam lồ chân ngôn 3 biến sái tịnh.